“Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc2,17). Lời xác quyết này của thánh Gia-cô-bê tông đồ giúp chúng ta ý thức đời sống của người tín hữu. Điều quan trọng của đời sống đức tin là hành động theo đức tin ấy; nhưng để hành động đúng theo đức tin, thì việc hiểu biết đức tin là vấn đề cần thiết. Chính vì thế, chúng ta cần nhìn lại thực trạng đời sống đức tin của chúng ta, và hướng tới việc hiểu biết sâu xa hơn đức tin ấy, để có thể hành động theo đức tin này.
Thực trạng đời sống đức tin
Rất nhiều người trong chúng ta nhận được đức tin từ đời sống gia đình: tôi có đạo, bởi vì tôi được sinh ra trong một gia đình có đạo. Theo đạo như một truyền thống của gia đình. Truyền thống ấy được thể hiện qua việc đọc kinh sớm tối, đi lễ ngày chủ nhật, xưng tội một năm ít là một lần, giữ chay hai ngày theo luật buộc, ăn cơm thì làm dấu như một thói quen…

Vì giữ đức tin như một truyền thống, nên người ta thường chỉ dừng lại ở thói quen; nhiều khi không hiểu việc mình làm. Hơn nữa, khi người ta không muốn tìm hiểu để biết sâu xa hơn việc thực hành đức tin ấy, thói quen có thể gây tác hại, vì nó có thể trở thành tiêu chí để đòi hỏi và phán xét. Việc giữ đạo như vậy làm cho người ta câu nệ hình thức bề ngoài, nhấn mạnh tới khía cạnh lề luật. Người giữ đạo như thế sẽ không đi sâu vào bản chất của đức tin, cũng như không nếm được niềm vui do đức tin đem lại.
Chính vì thế, để cho đức tin trở nên sống động, và đem lại niềm vui cho người tín hữu, thì việc hiểu biết đức tin là yếu tố cần thiết, không gì có thể thay thế được.
Nhu cầu hiểu biết đức tin
Chúng ta vẫn thường nghe câu: “vô tri bất mộ”, có nghĩa là không biết thì không mến yêu được. Người không biết rõ về đức tin, thì không biết rõ về Chúa, cũng như không biết rõ ý nghĩa của việc thực hành đức tin, ý nghĩa của những cử hành phụng vụ, cũng như lề luật của đời sống đạo. Khi không có sự hiểu biết như vậy, người ta không thể yêu mến Chúa và không cảm nếm được ý nghĩa của những cử hành trong đời sống đức tin. Chính vì vậy, việc hiểu biết đức tin phải được xem như là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp bách cho đời sống người tín hữu. Việc hiểu biết đức tin được tiến triển qua các giai đoạn và các phương diện khác nhau:
Biết Giáo lý
Việc học giáo lý – trước đây, chúng ta nói tới việc học kinh bổn – nhắm tới việc hiểu biết đức tin, hiểu biết những lý lẽ của đạo. Việc giảng dạy giáo lý được chia ra các giai đoạn: giáo lý khai tâm; giáo lý xưng tội rước lễ; giáo lý thêm sức; các lớp vào đời cho lứa tuổi thiếu niên; giáo lý hôn nhân.
Biết Kinh Thánh
Thánh Giê-rô-ni-mô nói “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô”. Kinh Thánh là bộ sách trình bày cho chúng ta kinh nghiệm niềm tin về một Thiên Chúa mặc khải chính mình cho con người, qua kinh nghiệm niềm tin của dân Do Thái thời Cựu Ước và qua các Tông đồ và Giáo hội thời Tân Ước. Nhờ đọc và học Kinh Thánh, chúng ta sẽ biết hơn về chính Thiên Chúa, biết Ngài đã yêu thương chúng ta như thế nào qua việc tạo dựng nên chúng ta, và đã cứu chúng ta như thế nào khi loài người chúng ta phạm tội. Nhờ việc đọc Kinh Thánh, chúng ta khám phá ra dung mạo của Thiên Chúa qua chính Đức Giê-su, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, ở giữa chúng ta. Nhờ việc học học hỏi Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy được lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta và chúng ta biết cách đáp trả tình yêu ấy như thế nào qua đời sống của chính mình.

Biết Cầu nguyện
Nhiều người cho rằng đọc kinh là cầu nguyện, nên họ cố gắng đọc kinh cho nhiều, cho to, và thậm chí tự hào về việc mình thuộc kinh. Đọc thuộc kinh, đọc nhiều và đọc to, đôi khi là một việc tốt, nhưng nhiều khi nó chỉ là “thùng rỗng kêu to”; đọc mà không suy, lời kinh chỉ ở trên môi miệng, chứ không xuất phát từ cõi lòng. Chúa đã chỉ trích thái độ này như sau: “dân này kính Ta ngoài môi ngoài miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6).
Như vậy, việc cầu nguyện phải đưa chúng ta đi vào tương quan với Chúa, gần Chúa hơn. Cầu nguyện nhiều khi chẳng cần nói gì, nhưng lòng trí và tâm hồn thì hoàn toàn hướng về Chúa và gắn kết với Ngài, như điều Chúa Giê-su dạy khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại và đi vào tương quan với Chúa Cha (x. Mt, 6,6). Cầu nguyện cũng giống như một cuộc trò chuyện thân tình với Chúa Giê-su, lắng nghe Chúa như cô Maria, em của cô Mác-ta. Cầu nguyện như Đức Maria, khi thì hát ca tụng Chúa, khi thì suy đi nghĩ lại Lời Chúa trong lòng. … Truyền thống Ki-tô giáo đề cập tới rất nhiều hình thức cầu nguyện như: khẩu nguyện, suy niệm và chiêm niệm.
Như vậy, điều thật quan trọng trong cầu nguyện là đưa chúng ta đi vào tương quan với Chúa. Trong tương quan ấy, chúng ta có thể ngợi khen Chúa, có thể nài xin Chúa ban ơn, có thể lắng nghe Chúa dạy bảo, có thể ở bên Chúa một cách riêng tư mà thôi. Để được như vậy, chúng ta cần phải học cầu nguyện, học lắng nghe Chúa qua việc đọc và suy niệm Lời Chúa. Nhờ tương quan với Chúa trong cầu nguyện, người tín hữu sẽ kín múc được ánh sáng cho việc thực hành đức tin của mình.
Những thực hành đức tin
“Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18). Điều thánh Gia-cô-bê tông đồ nhắn nhủ chúng ta đòi buộc chúng ta phải sống đức tin và hành động theo đức tin. Hành động theo là nơi cử hành và tuyên xưng đức tin.
Mỗi hành động đều có động cơ của nó. Động cơ tốt đưa tới hành động tốt, động cơ xấu sẽ đưa tới hành động xấu. Động cơ là điều chi phối chúng ta trong tâm trí, thôi thúc chúng ta trong hành động. Một người để cho động cơ là danh tiếng chi phối, người ấy sẽ tìm cách làm việc, thể hiện mình, điều tiết con người mình, hoặc tận dụng cơ hội phô trương mình, để được biết đến. Ngược lại, một người muốn sống âm thầm, giúp người khác một cách kín đáo, người ấy sẽ tìm cách để giấu mình.
Cũng vậy, người sống theo đức tin sẽ để cho đức tin ấy chi phối, hướng dẫn tâm trí mình, đưa mình tới hành động theo tinh thần của Tin mừng. Ví dụ như trong tương quan gia đình, người vợ sống theo đức tin, sẽ yêu thương và tùng phục chồng, theo mẫu gương của Hội Thánh gắn kết, yêu thương và tùng phục đức Ki-tô; người chồng sống đức tin sẽ hết lòng yêu thương vợ mình, tới độ hy sinh tính mạng vì vợ mình theo gương mẫu của Đức Ki-tô đã yêu thương tới hiến mạng vì Giáo hội (Ep 5,21-33). Con cái sống thảo hiếu với cha mẹ theo tinh thần của điều răn thứ tư…; mọi người sống với nhau theo tinh thần yêu thương, như chính Chúa Giê-su đã yêu thương con người chúng ta.
Người hành động theo đức tin sẽ xây dựng đời sống mình một cách thống nhất trên nền tảng đức tin ấy. Người ấy sẽ trở nên chiến sĩ của đức tin, khi phải đối diện với những thách đố, những khó khăn, mà vẫn chọn lựa sống theo đức tin. Đây là một cuộc chiến có thể dẫn tới hy sinh, thậm chí tới mất tính mạng, nhưng cuộc chiến đó lại đưa tới vinh quang là phần thưởng nước trời. Chọn lựa và hành động theo đức tin là con đường nên thánh.

Kết luận
Chúa Giê-su muốn người tín hữu trở nên chứng nhân của đức tin, là men và muối giữa cuộc đời, để mang tinh thần tin mừng soi chiếu đời dương thế. Nếu thiếu hiểu biết về đức tin, người tín hữu sẽ không thể là chứng nhân của đức tin được. Do vậy, mỗi người cần ý thức lại đời sống đức tin của mình, và tìm cách hiểu biết sâu hơn đức tin ấy. Đồng thời, qua việc thực hành cầu nguyện, tương quan với Thiên Chúa được gia tăng, người tín hữu sẽ dấn thân sống đức tin một cách cụ thể trong đời sống của mình.
Nhờ việc sống đức tin, tương quan với Chúa càng được lớn lên, tương quan giữa con người với nhau được thêm tốt đẹp, lúc ấy, chúng ta sẽ cảm nếm được niềm vui và bình an sâu xa trong tâm hồn. Đó chính là niềm vui của người con cái Chúa.
Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J.

Tin cùng chuyên mục:
THÔNG BÁO: Khai giảng Lớp Giáo lý Hôn nhân Dự tòng – Khóa 1 năm 2026
CA ĐOÀN TÊ-RÊ-SA GIÁO XỨ NGỌC MẠCH- Mời gọi Chung tay phục vụ Thiên Chúa.
Giáo xứ Ngọc Mạch: Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên
Giờ Thánh Lễ tại Giáo Xứ Ngọc Mạch – TGP Hà Nội